Các yếu tố tác động tới lãi suất


Sự biến động của lãi suất sẽ ảnh hưởng tới giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường, và do vậy, ảnh hưởng tới hoạt động của các trung gian tài chính, các quỹ đầu tư, và cả của các doanh nghiệp. Lãi suất có ảnh hưởng trực tiếp tới giá của các công cụ nợ như trái phiếu, tín phiếu kho bạc, hoặc các món vay thế chấp. Lãi suất cũng ảnh hưởng gián tiếp tới giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái. Do vậy, các chủ thể tham gia trên thị trường tài chính đều giám sát chặt chẽ biến động của lãi suất để có thể hành động nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ những biến động của lãi suất trên thị trường.

Các yếu tố tác động tới lãi suất

1. Lý thuyết về cung cầu vốn vay

2. Các yếu tố kinh tế tác động tới cung và cầu vốn

3. Các yếu tố khác tác động tới lãi suất

Nội dung về các yếu tổ tác động tới lãi suất

1. Lý thuyết về cung cầu vốn vay (The loanable funds theory)

Là một lý thuyết thường được dùng để giải thích những biến động của lãi suất. Lý thuyết này cho thấy lãi suất thị trường bị tác động bởi các yếu tố tác động tới cung và cầu của các món cho vay.

- Các yếu tố tác động tới cầu vốn vay

+ Nhu cầu vay vốn của hộ gia đình: Các hộ gia đình thường có nhu cầu vay vốn để trang trải các chi phí mua nhà, ô tô, đồ dùng gia đình. Lượng cầu vốn vay của hộ gia đình có quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất thị trường. Hình 2.1 thể hiện đường cầu lý thuyết về nhu cầu vay vốn của hộ gia đình. Có nhiều yếu tố tác động tới nhu cầu vay vốn của hộ gia đình, và do vậy làm dịch chuyển đường cầu vốn. Ví dụ như khi thu nhập dự kiến tăng lên hoặc thuế thu nhập giảm xuống, họ kỳ vọng có khả năng trả nợ nhiều hơn trong tương lai, và do vậy sẽ gia tăng vay nợ, điều này là đường cung vốn dịch phải.

các yếu tổ tác động tới lãi suất

+ Nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp: Doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để tài trợ mua sắm tài sản cố định và tài sản lưu động. Lượng cầu vốn vay của doanh nghiệp cũng có quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất thị trường như trong hình 2.1. Đường cầu vốn cũng dịch chuyển theo các yếu tố tác động tới nhu cầu vay nợ của doanh nghiệp. Ví dụ, khi triển vọng nền kinh tế trong tưong lai là tích cực, các doanh nghiệp kỳ vọng sẽ có nhiều cơ hội kinh doanh và đạt được lợi nhuận cao hơn làm tăng nhu cầu vay vốn và làm đường cầu vốn dịch phải.
+ Nhu cầu vay vốn của Chính phủ: Khi Chính phủ lập kế hoạch chi tiêu vượt quá nguồn thu của Chính phủ từ thuế và các nguồn thu khác,Chính phủ cần vay nợ trên thị trường để tài trợ cho các khỏan chi tiêu vượt quá đó. Chính quyền các địa phương, các cơ quan của Chính phủ cũng có thể có nhu cầu vay nợ để tài trợ cho các chi phí thuộc phạm vi hoạt động của họ. Khác với các nhu cầu vay vốn của hộ gia đình và doanh nghiệp, nhu cầu vay vốn của Chính phủ được cho là không chịu ảnh hưởng của lãi suất, tức là đường cầu vốn thẳng đứng như trong Hình 2.2: Nhu cầu vay vốn của Chính phủ cũng thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ, khi một dự án hay một chương trình chi tiêu của Chính phủ được phê duyệt dẫn tới nhu cầu chi tiêu vượt quá (thâm hụt ngân sách) tăng lên 20.000 tỷ đồng, lượng cầu vốn vay sẽ tăng lên tương ứng và làm đường cầu vốn vay của Chính phủ dịch sang phải.


các yếu tố tác động tới lãi suất

+ Nhu cầu vay nợ tổng hợp: Nhu cầu vay nợ trên thị trường được hình thành bằng cách tổng hợp nhu cầu vay nợ của ba đối đượng được phân tích ở trên và được thể hiện trong hình 2.3. Lượng tổng cầu vay nợ trên thị trường cũng có đặc điểm có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất, tức là đường cầu vốn đi xuống về bên phải.

các yếu tố tác động tới lãi suất


- Cung các khoản vốn vay
Thuật ngữ “cung vốn vay” được sử dụng để chỉ các khỏan vốn được cung cấp từ những người tiết kiệm trong nền kinh tế. Các hộ gia đình là các đối tượng tiết kiệm cơ bản và lớn nhất trong nền kinh tế. Các khỏan cho vay cũng được cung cấp bởi Chính phủ hay các doanh nghiệp. Tuy vậy tính chung lại, các hộ gia đình là nhóm có các khỏan tiết kiệm ròng và là những cho cung ứng các khoản cho vay, còn Chính phủ và các doanh nghiệp là những người đi vay trên thị trường tài chính.

các yếu tố tác động tới lãi suất

Khối lượng vốn được cung ứng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với lãi suất, nghĩa là khi lãi suất cao hơn, các hộ gia đình sẽ muốn cho vay nhiều hơn, với giả thiết các yếu tố khác là không đổi. Điều này làm cho đường cung vốn là đi lên về bên phải như trong hình đường cung vốn
Lượng vốn được cung ứng cũng chịu tác động bởi chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương kiểm soát. Ngân hàng trung ương có thể kiểm soát khối lượng dự trữ trong các tổ chức tài chính, các khoản vốn này có thể được chuyển thành các món cho vay. Tuy nhiên, chúng ta ít quan tâm đến vai trò của các trung gian tài chính ở đây, do họ chỉ là người trung gian trong việc chu chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người đi vay.
Tổng lượng vốn được cung ứng trong nền kinh tế là lượng vốn được cung ứng từ các khu vực hộ gia đình, chính phủ, doanh nghiệp và lượng vốn được cung ứng bởi ngân hàng trung ương. Đường cung vốn tổng hợp dốc lên trên về bên phải, thể hiện lượng vốn được cung ứng ít nhạy cảm với thay đổi của lãi suất thị trường. Trong khi đó, đường cầu vốn được cho là nhạy cảm với lãi suất hơn, và ít dốc hơn

- Lãi suất cân bằng thị trường
Giao điểm của đường cung vốn và cầu vốn xác định mức lãi suất cân bằng thị trường . Bất kỳ một yếu tố làm làm cho lãi suất lệch khỏi lãi suất cân bằng, đều làm cho người cho vay và người đi vay cạnh tranh nhau và đưa mức lãi suất trở về cân bằng

các yếu tố tác động tới lãi suất

Chú ý: Lãi suất được đề cập tới trong mô hình này là lãi suất không có rủi ro vỡ nợ, do vậy nó thường được xem là lãi suất của các trái phiếu chính phủ hay tín phiếu kho bạc. Lãi suất là lãi suất danh nghĩa, vì được tính theo các giá trị tiền tệ danh nghĩa

2. Các yếu tố kinh tế tác động tới cung và cầu vốn

- Các yếu tố ảnh hưởng tới cung vốn và làm dịch chuyển đường cung vốn

+ Thu nhập, của cải: khi thu nhập, của cải của các hộ gia đình tăng lên làm tăng khả năng cho vay và làm cung vốn vay tăng lên, đường cung vốn dịch phải.

+ Tỷ suất lợi nhuận của khoản vay: khi tỷ suất lợi nhuận của khoản vay cao hơn so với các khoản đầu tư khác, cung vay tăng lên, đường cung vốn dịch phải.

+ Rủi ro: khi giá trái phiếu, giá của khoản vay trên thị trường biến động mạnh làm rủi ro cho việc nắm giữ khoản vay tăng sẽ tác động tiêu cực tới cung vốn vay, lượng cung vốn vay giảm và đường cung vốn dịch trái.

+ Tính thanh khoản: nếu khoản vay trở nên dễ mua bán hơn, tính thanh khoản tăng lên, nó trở nên được ưa thích hơn làm cung vốn vay tăng lên, đường cung vốn dịch phải.

- Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu vốn và làm dịch chuyển đường cầu vốn

+ Khả năng sinh lợi của các cơ hội đầu tư: khi số lượng các cơ hội đầu tư sinh lợi gia tăng, ví dụ trong giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ kinh doanh, nhu cầu vay vốn để tài trợ cho các cơ hội đầu tư sinh lợi đó tăng lên, cầu vốn vay tăng và đường cầu vốn dịch phải.

+ Lạm phát kỳ vọng: lạm phát kỳ vọng trong tương lai tăng lên làm lãi suất thực giảm, chi phí thực của việc vay mượn giảm đi và cầu vốn vay tăng và đường cầu vốn dịch phải.

+ Các hoạt động của chính phủ: khi chính phủ gia tăng các hoạt động làm tăng chi tiêu của chính phủ và tăng thâm hụt ngân sách và chính phủ thường tài trợ cho các chi tiêu tăng thêm đó bằng cách gia tăng vay nợ trên thị trường. Điều này làm cầu vốn vay tăng và đường cầu vốn dịch phải.

- Các yếu tố ảnh hưởng tới lãi suất cân bằng thị trường

+ Tác động của tăng trưởng kinh tế tới lãi suất: Khi các doanh nghiệp trở nên lạc quan về mức tăng trưởng kinh tế trong tương lai, cầu vốn vay sẽ tăng lên để tài trợ cho các cơ hội đầu tư gia tăng cùng với sự tăng trưởng kinh tế. Điều này làm đường cầu vốn dịch phải. Thu nhập cũng có thể tăng lên trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng, tuy vậy không có gì chắc chắn là tiết kiệm và cho vay tăng lên cả. Do vậy, với sự dịch phải của đường cầu vốn, lãi suất thị trường tăng lên.

các yếu tố tác động tới lãi suất

- Tác động của lạm phát tới lãi suất: Lạm phát tác động tới lãi suất qua tác động tới cung và cầu vốn. Giả sử lạm phát được kỳ vọng là tăng lên trong tương lai, các hộ gia đình sẽ giảm bớt ý muốn cho vay để mua hàng hóa trước khi giá tăng lên, làm đường cung vốn dịch phải. Thêm vào đó, nhu cầu vay vốn của hộ gia đình và doanh nghiệp cũng tăng lên để mua hàng hóa trước khi tăng giá, làm đường cầu vốn dịch sang phải. Mức lãi suất mới trên thị trường được hình thành cao hơn lãi suất ban đầu do hành vi của người đi vay và cho vay trên thị trường
Đây còn được gọi là hiệu ứng Fisher, nêu lên mối liên hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lạm phát. Trong phạm vi môn học này, thuật ngữ lãi suất luôn được hiểu là lãi suất danh nghĩa.



các yếu tố tác động tới lãi suất

- Tác động của thâm hụt ngân sách tới lãi suất: Khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa làm gia tăng thâm hụt ngân sách. Điều này làm tăng cầu vốn vay, đường cầu vốn dịch phải, lãi suất sẽ tăng lên. Sự gia tăng nhu cầu vay vốn của Chính phủ làm giảm lượng vốn vay của khu vực tư nhân, với điều kiện tổng khối lượng vốn được cung ứng từ tiết kiệm là không đổi. Hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng chèn lấn đầu tư tư nhân (crowding-out effect).
- Ngoài ra, tình trạng cung cầu vốn trên thị trường còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố cung cầu vốn trên thị trường tài chính quốc tế. Khi nền kinh tế của một nước hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới như tình trạng nền kinh tế Việt Nam hiện tại, vai trò của luồng vốn quốc tế (vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp của nước ngoài) sẽ có ảnh hưởng ngày một lớn hơn tới mặt bằng lãi suất trong nước.
- Tóm lại, các điều kiện kinh tế khác nhau là yếu tố căn bản đằng sau những biến động của cung vốn từ tiết kiệm của các hộ gia đình và đằng sau cầu vốn của các gia đình, doanh nghiệp, và chính phủ. Mức tiết kiệm của các hộ gia đình bị ảnh hưởng một phần thông qua chính sách tài khóa của chính phủ (thuế suất thuế thu nhập cá nhân) từ đó tác động tới cung vốn. Chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương cũng tác động tới cung vốn. Nhu cầu vay vốn cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ vì những chính sách này ảnh hưởng tới tình trạng nền kinh tế thông qua mức độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu vốn vay. Chi tiêu của Chính phủ ảnh hưởng tới thâm hụt ngân sách do vậy cũng ảnh hưởng tới nhu cầu vay vốn.



các yếu tố tác động tới lãi suất

Các phân tích ở trên không bao quát hết toàn bộ các tác động qua lại giữa cung và cầu vốn vay, nhưng có thể giúp người đọc hiểu được về cơ bản nguyên nhân thay đổi của lãi suất thị trường và cũng đóng vai trò là các phân tích nền tảng để dựa vào đó, người học có thể phân tích và dự báo biến động của lãi suất thị trường. Phân tích các yếu tố tác động tới lãi suất cũng được sử dụng làm cơ sở để giải thích biến động giá của các loại chứng khoán khác nhau trên thị trường.

3. Các yếu tố khác tác động tới lãi suất

Lãi suất là giá cả của khoản vay, được hình thành bởi cung và cầu các món vay trên thị trường. Tuy vậy, lãi suất thường gắn với một công cụ tài chính nhất định. Khi quan sát lãi suất trên thị trường, người ta thường thấy có nhiều loại lãi suất khác nhau gắn với các loại công cụ tài chính khác nhau, mà chủ yếu ở đây là các công cụ nợ, các loại tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty.

Các yếu tố tác động tới lãi suất khác

Các loại công cụ nợ khác nhau sẽ mang lại các mức lãi suất khác nhau, phụ thuộc vào các yếu tố sau đây:

- Rủi ro vỡ nợ: Hầu hết các loại chứng khoán đều có mức độ rủi ro vỡ nợ nhất định. Đó là tình trạng xảy ra khi người phát hành chứng khoán mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ của họ đối với người nắm giữ chứng khoán khi bị phá sản. Mặc dù nhà đầu tư luôn có thể mua các loại trái phiếu chính phủ (được xem là không có  rủi ro vỡ nợ, vì lúc nào chính phủ cũng có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán thông qua thu thuế hoặc thậm chí in thêm tiền để trả nợ), nhà đầu tư vẫn có thể nắm giữ các loại chứng khoán khác, nếu như lợi tức từ các chứng khóan đó đủ bù đắp cho rủi ro mà họ phải gánh chịu. Do vậy, khi các yếu tố khác không đổi, một loại chứng khoán có rủi ro cao hơn sẽ phải đem lại cho nhà đầu tư một mức lợi ích lớn hơn để có thể vay nợ được trên thị trường. Rủi ro vỡ nợ đặc biệt quan trọng đối với các chứng khoán dài hạn, khi nhà đầu tư phải chịu đựng rủi ro vỡ nợ với thời gian lâu hơn.

- Kỳ hạn thanh toán: các loại chứng khoán có kỳ hạn thanh toán dài hơn dẫn tới  rủi ro cao hơn, tính thanh khoản thấp hơn, do vậy phải thanh toán một mức lãi suất cao hơn cho người nắm giữ chứng khoán.

Trên là bài viết các yếu tố tác động tới lãi suất, nếu bạn muốn tìm hiểu về mảng đầu tư tài chính thì bạn cần đọc và hiểu được báo cáo tài chính, bạn có thể tìm hiểu về các khóa học kế toán online do đội ngũ kế toán trưởng chuyên làm dịch vụ báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp

Ngoài việc tìm hiểu kỹ về các yếu tố tác động tới lãi suất thì bạn cần hiểu thêm về thị trường tài chính tham khảo bài: Thị trường tài chính là gì

 

dịch vụ báo cáo tài chính