Hạch toán tscđ hữu hình được Doanh nghiệp mua dưới hình thức trao đổi + ví dụ


Trong môi trường kinh doanh, việc mua sắm Tài sản Cố định (TSCĐ) là một phần quan trọng của hoạt động của các doanh nghiệp. Khi quyết định mua TSCĐ thông qua hình thức trao đổi, quy trình hạch toán không chỉ là việc đánh giá giá trị tài sản mới mà còn liên quan đến việc ghi nhận chính xác trong bảng kế toán.
Bài viết này sẽ đưa ra cái nhìn tổng quan về quá trình hạch toán TSCĐ hữu hình khi Doanh nghiệp lựa chọn mua dưới hình thức trao đổi. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các bước quan trọng và nguyên tắc kế toán cần được tuân thủ trong quá trình này.
Qua việc trình bày các khía cạnh cụ thể và quy trình hạch toán, bài viết nhằm giúp bạn hiểu rõ hơn về:
    Xác định giá trị hợp lý của tài sản được trao đổi: Quá trình này bao gồm việc đánh giá giá trị thị trường của tài sản mới và việc so sánh với giá trị tài sản hiện có.
    Ghi nhận và điều chỉnh kế toán: Các bước cần thiết để ghi nhận tài sản mới và điều chỉnh bảng kế toán hiện tại của doanh nghiệp.
    Tuân thủ quy định kế toán: Tầm quan trọng của việc tuân thủ các nguyên tắc và quy định kế toán trong quá trình hạch toán TSCĐ, đảm bảo sự minh bạch và chính xác trong thông tin kế toán.
Thông qua việc phân tích cụ thể quy trình hạch toán và đưa ra ví dụ minh họa, bài viết sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu rộng hơn về cách doanh nghiệp hạch toán TSCĐ hữu hình khi mua tài sản dưới hình thức trao đổi.

Hạch toán tscđ hữu hình được Doanh nghiệp mua dưới hình thức trao đổi

a. Tài sản Cố định (TSCĐ) hữu hình tương tự thông qua việc trao đổi và đưa vào sử dụng ngay cho sản xuất kinh doanh, việc ghi nhận sẽ thực hiện như sau:
    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình (nguyên giá TSCĐ hữu hình nhận về ghi theo giá trị còn lại của TSCĐ đưa đi trao đổi): Đây là tài khoản nợ để ghi nhận giá trị nguyên giá của TSCĐ hữu hình mới nhận về thông qua việc trao đổi. Giá trị này được xác định dựa trên giá trị còn lại của TSCĐ đã đưa đi trao đổi.
    Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ (số đã khấu hao của TSCĐ đưa đi trao đổi): Tài khoản này ghi nhận số tiền đã khấu hao trên TSCĐ đã đưa đi trao đổi. Điều này thể hiện phần hao mòn đã được ghi nhận trước đó trên tài sản đã được trao đổi.
    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình (nguyên giá TSCĐ đưa đi trao đổi): Đây là tài khoản ghi nhận giá trị nguyên giá của TSCĐ đã đưa đi trao đổi. Việc ghi có ở đây cần phản ánh giá trị ban đầu của tài sản đã được trao đổi.
Ví dụ:
Giả sử Doanh nghiệp A đã trao đổi một máy móc cũ (TSCĐ hữu hình) có giá trị còn lại là 20.000 đơn vị tiền tệ (VND) với một máy móc mới có giá trị nguyên giá là 30.000 VND. Khi nhận máy móc mới và ngay lập tức sử dụng nó cho sản xuất kinh doanh, Doanh nghiệp A ghi sổ như sau:
    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình: 20.000 VND
    (Nguyên giá TSCĐ hữu hình nhận về ghi theo giá trị còn lại của TSCĐ đưa đi trao đổi)
    Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ: Giả sử máy móc cũ đã được khấu hao trước đó với số tiền là 10.000 VND.
    (Số đã khấu hao của TSCĐ đưa đi trao đổi)
    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình: 30.000 VND
    (Nguyên giá TSCĐ đưa đi trao đổi)

b. ​Doanh nghiệp giao TSCĐ hữu hình cho bên trao đổi, quy trình ghi sổ có thể diễn ra như sau:
    Nợ TK 811 – Chi phí khác (giá trị còn lại của TSCĐ đưa đi trao đổi): Số tiền này phản ánh giá trị còn lại của TSCĐ đã giao cho bên trao đổi. Đây là khoản giá trị mà Doanh nghiệp đã "buông bỏ" khi trao đổi TSCĐ hữu hình.
    Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ (giá trị đã khấu hao): Số tiền này tương ứng với số tiền đã khấu hao của TSCĐ trước khi nó được giao đi trong quá trình trao đổi.
    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình (nguyên giá): Đây là giá trị nguyên gốc của TSCĐ được giao đi trong quá trình trao đổi. Điều này phản ánh việc loại bỏ TSCĐ khỏi sổ sách của Doanh nghiệp.
Ví dụ:
Giả sử Doanh nghiệp A quyết định trao đổi một máy móc cũ (TSCĐ hữu hình) có giá trị còn lại là 25.000 đơn vị tiền tệ (VND) với một máy móc tương tự khác. Khi giao máy móc cũ cho bên trao đổi, Doanh nghiệp A ghi sổ như sau:
    Nợ TK 811 – Chi phí khác (giá trị còn lại của TSCĐ đưa đi trao đổi): 25.000 VND
    (Giá trị còn lại của TSCĐ đã giao cho bên trao đổi)
    Nợ TK 214 – Hao mòn TSCĐ: Giả sử máy móc cũ đã được khấu hao trước đó với số tiền là 15.000 VND.
    (Số đã khấu hao của TSCĐ đưa đi trao đổi)
    Có TK 211 – TSCĐ hữu hình: 40.000 VND
    (Nguyên giá của TSCĐ đã giao đi trong quá trình trao đổi)

c. ​Doanh nghiệp ghi tăng thu nhập do việc trao đổi TSCĐ. Dưới đây là cách ghi sổ có thể được thực hiện trong trường hợp này:
    Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng (tổng giá thanh toán): Đây là tổng giá trị thanh toán được nhận từ bên trao đổi khi giao đi TSCĐ. Bạn ghi số tiền này vào tài khoản phải thu của khách hàng vì nó là khoản tiền mà Doanh nghiệp sẽ nhận được từ giao dịch trao đổi.
    Có TK 711 – Thu nhập khác (giá trị hợp lý của TSCĐ đưa đi trao đổi): Số tiền này tương ứng với giá trị hợp lý của TSCĐ đã giao đi trong quá trình trao đổi. Đây là phần thu nhập được ghi nhận từ việc trao đổi TSCĐ.
    Có TK 333 – Thuế GTGT phải nộp (TK 3311) (nếu có): Nếu có thuế GTGT phát sinh từ giao dịch này, bạn ghi số tiền này vào tài khoản thuế GTGT phải nộp. Đây là một khoản phát sinh nếu việc trao đổi TSCĐ dẫn đến việc tính toán và nộp thuế GTGT cho khoản thu nhập đã thu được từ giao dịch này.
Ví dụ:
Giả sử Doanh nghiệp A đã trao đổi một máy móc cũ (TSCĐ hữu hình) có giá trị còn lại là 50.000 đơn vị tiền tệ (VND) với một máy móc tương tự khác và nhận được thanh toán tổng cộng là 60.000 VND từ bên trao đổi. Khi ghi sổ, Doanh nghiệp A thực hiện như sau:
    Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng (tổng giá thanh toán): 60.000 VND
    (Tổng số tiền được thanh toán từ bên trao đổi)
    Có TK 711 – Thu nhập khác (giá trị hợp lý của TSCĐ đưa đi trao đổi): 50.000 VND
    (Giá trị hợp lý của TSCĐ đã giao đi trong quá trình trao đổi)
    Có TK 333 – Thuế GTGT phải nộp (TK 3311) (nếu có): Nếu có thuế GTGT phát sinh từ giao dịch này, chẳng hạn như 10% thuế GTGT, bạn sẽ ghi số tiền thuế GTGT vào tài khoản này, ví dụ: 5.000 VND.
    (Số tiền thuế GTGT phải nộp phát sinh từ khoản thu nhập này)

d. ​Khi Doanh nghiệp nhận được TSCĐ hữu hình thông qua quá trình trao đổi, quá trình ghi sổ có thể diễn ra như sau:
    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình (giá trị hợp lý của TSCĐ nhận về): Đây là số tiền phản ánh giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận được thông qua quá trình trao đổi. Doanh nghiệp ghi số tiền này vào tài khoản TSCĐ hữu hình để phản ánh giá trị của tài sản đã nhận được.
    Nợ TK 133 – Thuế GTGT được khấu trừ (1332) (Nếu có): Nếu có thuế GTGT được khấu trừ từ giao dịch này, Doanh nghiệp sẽ ghi số tiền này vào tài khoản 133 để phản ánh khoản thuế GTGT được khấu trừ từ việc nhận TSCĐ hữu hình qua quá trình trao đổi.
    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng (tổng giá thanh toán): Đây là tổng giá trị thanh toán Doanh nghiệp sẽ nhận được từ bên trao đổi khi nhận TSCĐ hữu hình. Số tiền này được ghi vào tài khoản phải thu của khách hàng để thể hiện số tiền mà Doanh nghiệp sẽ nhận được từ giao dịch trao đổi này.
Ví dụ: 
Giả sử Doanh nghiệp A đã trao đổi một chiếc máy tính cũ (TSCĐ hữu hình) có giá trị còn lại là 15.000 đơn vị tiền tệ (VND) với một chiếc máy tính mới tương đương và nhận được thanh toán tổng cộng là 20.000 VND từ bên trao đổi. Khi ghi sổ, Doanh nghiệp A thực hiện như sau:
    Nợ TK 211 – TSCĐ hữu hình (giá trị hợp lý của TSCĐ nhận về): 20.000 VND
    (Giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình mới nhận được qua quá trình trao đổi)
    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng (tổng giá thanh toán): 20.000 VND
    (Tổng số tiền được thanh toán từ bên trao đổi)
Trong trường hợp này, Doanh nghiệp A đã ghi nhận giá trị hợp lý của TSCĐ mới nhận được từ quá trình trao đổi vào tài khoản TSCĐ hữu hình và ghi nhận tổng số tiền thanh toán vào tài khoản phải thu của khách hàng.

e. ​Khi Doanh nghiệp nhận được số tiền thêm vào phải thu của mình do giá trị của TSCĐ đã đưa đi trao đổi lớn hơn giá trị của TSCĐ nhận được trong quá trình trao đổi, quá trình ghi sổ có thể diễn ra như sau:
    Nợ các TK 111, 112 (số tiền đã thu thêm): Đây là tài khoản mà Doanh nghiệp ghi nhận số tiền thu thêm vào từ bên trao đổi do giá trị TSCĐ đã đưa đi trao đổi lớn hơn giá trị của TSCĐ nhận được. Các tài khoản này thường được sử dụng để ghi nhận số tiền mà Doanh nghiệp phải thu thêm vào do quá trình trao đổi.
    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng: Đây là tài khoản mà Doanh nghiệp ghi nhận giá trị TSCĐ nhận được từ bên trao đổi. Tuy nhiên, do giá trị của TSCĐ đã đưa đi trao đổi lớn hơn, Doanh nghiệp nhận được số tiền bù vào phải thu của mình để cân bằng.
Ví dụ: Giả sử Doanh nghiệp A đã trao đổi một chiếc máy móc cũ (TSCĐ hữu hình) có giá trị còn lại là 70.000 đơn vị tiền tệ (VND) với một máy móc mới tương đương và nhận được tổng giá trị thanh toán là 50.000 VND từ bên trao đổi. Tuy nhiên, sau quá trình đánh giá, giá trị hợp lý của chiếc máy móc mới này thực tế là 80.000 VND.
Khi ghi sổ, Doanh nghiệp A phải ghi thêm số tiền vào phải thu của mình để cân bằng giữa giá trị thực tế của máy móc mới và giá trị của máy móc đã trao đổi:
    Nợ các TK 111, 112 (số tiền đã thu thêm): Doanh nghiệp ghi nhận số tiền đã thu thêm vào từ bên trao đổi do giá trị TSCĐ đã đưa đi trao đổi lớn hơn giá trị của TSCĐ nhận được, chẳng hạn là 10.000 VND (giá trị thực tế của máy móc mới trừ đi giá trị máy móc cũ nhận được).
    Có TK 131 – Phải thu của khách hàng: 60.000 VND (giá trị thực tế của máy móc mới).
Trong trường hợp này, Doanh nghiệp A cần điều chỉnh số tiền phải thu của mình để phản ánh giá trị thực tế của tài sản đã nhận được từ quá trình trao đổi.

g. ​Khi Doanh nghiệp phải trả thêm tiền do giá trị hợp lý của TSCĐ đã đưa đi trao đổi nhỏ hơn giá trị hợp lý của TSCĐ nhận được trong quá trình trao đổi, quá trình ghi sổ có thể diễn ra như sau:
    Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng: Đây là tài khoản mà Doanh nghiệp ghi nhận số tiền cần trả cho bên trao đổi, chính là phần tiền thêm vào mà Doanh nghiệp phải trả do giá trị TSCĐ đã đưa đi trao đổi nhỏ hơn giá trị của TSCĐ nhận được. Điều này có thể làm tăng khoản nợ trong tài khoản phải thu của Doanh nghiệp.
    Có các TK 111, 112,…: Các tài khoản này thường được sử dụng để ghi nhận số tiền phải trả thêm vào cho bên trao đổi. Số tiền này phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị thực tế của TSCĐ đã đưa đi trao đổi và giá trị của TSCĐ nhận được.
Ví dụ:
Giả sử Doanh nghiệp A đã trao đổi một chiếc máy móc cũ (TSCĐ hữu hình) có giá trị còn lại là 90.000 đơn vị tiền tệ (VND) với một máy móc mới tương đương và nhận được tổng giá trị thanh toán là 80.000 VND từ bên trao đổi. Tuy nhiên, sau quá trình đánh giá, giá trị hợp lý của chiếc máy móc mới này thực tế là 100.000 VND.
Khi ghi sổ, Doanh nghiệp A phải trả thêm tiền cho bên trao đổi để cân bằng chênh lệch giữa giá trị thực tế của máy móc mới và giá trị máy móc cũ đã đưa đi trao đổi:
    Nợ TK 131 – Phải thu của khách hàng: Doanh nghiệp ghi nhận số tiền cần trả cho bên trao đổi, chính là số tiền thêm vào mà Doanh nghiệp phải trả do giá trị TSCĐ đã đưa đi trao đổi nhỏ hơn giá trị của TSCĐ nhận được, chẳng hạn là 20.000 VND (giá trị thực tế của máy móc mới trừ đi giá trị máy móc cũ nhận được).
Mời bạn xem thêm một số nội dung:
hạch toán thuế TNCN (thu nhập cá nhân) 2024
hạch toán và kết chuyển chi phí xây lắp 2024
hạch toán chi phí chung cho công trình
    Có các TK 111, 112,…: Các tài khoản này thường được sử dụng để ghi nhận số tiền phải trả thêm vào cho bên trao đổi. Số tiền này phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị thực tế của TSCĐ đã đưa đi trao đổi và giá trị của TSCĐ nhận được.

Kết luận

Trên thực tế, việc giao dịch trao đổi Tài sản cố định (TSCĐ) có thể tạo ra nhiều tình huống khác nhau đối với ghi sổ kế toán của doanh nghiệp. Kết quả của việc ghi sổ sẽ phụ thuộc vào các yếu tố như giá trị thực tế của TSCĐ, chênh lệch giữa giá trị của tài sản trao đổi và tiền mặt nhận được hoặc trả thêm, và quy định kế toán cụ thể của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong các trường hợp thường gặp, khi Doanh nghiệp nhận hoặc trả thêm tiền trong quá trình trao đổi TSCĐ do chênh lệch giá trị giữa tài sản nhận được và tài sản đã đưa đi, việc ghi sổ thường phản ánh như sau:
    Nếu Doanh nghiệp nhận tiền thêm: Ghi vào tài khoản phải thu của khách hàng hoặc các tài khoản tương đương để ghi nhận số tiền Doanh nghiệp sẽ nhận được thêm từ bên trao đổi.
    Nếu Doanh nghiệp trả thêm: Ghi vào tài khoản phải trả cho bên trao đổi hoặc các tài khoản tương đương để ghi nhận số tiền Doanh nghiệp sẽ phải trả thêm cho bên trao đổi.
Các tài khoản chính xác sẽ thay đổi tùy thuộc vào cách tổ chức kế toán cụ thể của doanh nghiệp và quy định kế toán áp dụng. Để đảm bảo tính chính xác và tuân thủ quy định, luôn nên tham khảo ý kiến của chuyên gia kế toán hoặc tư vấn tài chính khi ghi sổ các giao dịch trao đổi TSCĐ.
dịch vụ báo cáo tài chính